Cẩm nang luyện tập phòng chống ô nhiễm môi trường. " Nếu chúng ta làm sạch cơ thể hàng ngày, các tế bào có thể duy trì lâu hơn" - Dr.Alexis Carrel - Giải thưởng Nobel 1912
ẢNH ĐẸP
Bà Nguyễn Thị Ninh báo cáo vượt qua bệnh kiệt sức
Ông Nguyễn Thúc Tề, báo cáo nhận thức về Sức mạnh vô thức
Năng lượng phủ kín hội trường, các hình ảnh không rõ nét, ai cũng được nhận năng lượng vi tế
Ánh sáng vi tế 1
KINH GIẢI OÁN NGHIỆP

          CHỮA BỆNH ÂM  

        Người bệnh tự phát hiện có bệnh âm từ trước hoặc khi tập phát hiện: Người bị rung lắc mạnh, người ớn lạnh, giật mình, có tiếng nói, hay nổi da gà, cục cứng di chuyển, mặt tối xám, da thô dầy… là bệnh âm từ trước. Cần dùng đá Téctit 200g trở lên. Cách chữa:

         1. Khai mở Hà Đào Thành, luyện tập từ bài thể dục và các  bài cao cấp.

         2.  Tăng cường  giải trược kinh Tâm bào, Tam tiêu.

         3. Nắm đá 20 phút mỗi khi nằm nghỉ, mỗi khi thể dục vô thức. Đặt đá chỗ vào chỗ đau. Giật mình là vong xuất. Hoặc bật tung người. Sức khỏe nhanh chóng cải thiện, người nhẹ nhõm, vui vẻ trở lại. Có người nhiều vài trăm vong cũng phải giải bằng hết. Bài tập cao cấp có thể giải vong sinh vật vô hình. Trên đường thoát cắn rứt như kiến, cứ yên lặng thiền cho thoát hết.

            4. Xông hơi, tắm khoáng nóng.

       5. Sau mỗi buổi tập đủ năng lượng mạnh, phải đọc Kinh Giải oán nghiệp, để hòa giải oán cừu, thuyết phục vong tỉnh ngộ siêu thoát qua HĐT. Lúc đó vong sẽ thoát ra hoặc lúc nằm thư giãn tĩnh tâm.

            6. Người yếu bệnh đi đám ma, nghĩa địa phải cầm đá Tectit.

         Vong âm là hiện thực khách quan, là linh hồn của người có oán cừu với ta, hoặc linh hồn mê lầm, lúc còn sống chưa tu tập tập học hỏi chân lý,  còn tham lam quá độ, muốn dùng ta  để thỏa mãn dục vọng của họ. Vong âm cũng gây ra bệnh tật, bệnh nan y, và bệnh hoạn tinh thần như: lo sợ, hoang mang, nóng giận, cao ngạo, tham lam, thèm khát, thù hận, chia rẽ, dối trá, lươn lẹo, đồng tính luyến ái, thất vọng, bi quan, trầm cảm, kém trí nhớ…  Không có máy móc nào phát hiện, không có thuốc men chữa được. Chúng còn gây trở ngại không muốn luyện tập. Giải hết vong âm sẽ chữa hết bệnh hoạn của tâm. Một người có thể nhiều vong âm theo đến chết vẫn phiền não. Một người tu tâm chân chính dứt khoát không làm việc ác, sẽ hạn chế được vong âm, và phải chữa bệnh âm, tự mình giải nghiệp oán. Phải có trí tuệ cao, không mắc mưu vong âm luôn diễn biến tương đối phức tạp. Bình thường vong ẩn náu trong người, tâm người lẫn ma làm mọi chuyện phi đạo lý mà không nhận ra lỗi để sửa sai. Khi thực hành bài tập Vô thức, có ánh sáng Prana chiếu vào, thì vong âm sợ hãi sắp phải ra, sẽ tìm cách chống đối, vùng vẫy, dọa nạt làm cho ta sợ hãi, dao động, bỏ tập. Lúc này phải cương quyết nghe lời Thày luyện tập, không nghe vong dụ dỗ. Và đọc kinh giải oán nghiệp để thuyết phục vong hiểu ra con đường sung sướng siêu thoát qua Hà Đào Thành. Mặt khác phải chấm dứt mê tín, bùa ngải, và những thày có vong âm. Không xin xỏ ai, mà tự tin bản thân luyện tập mỗi ngày nhiều ánh sáng Prana, thì vong âm ngoan cố phải thoát ra hết. Nên biết rằng bản thân mình đã có Nội lực mạnh nhất, nhờ khai mở Hà Đào Thành có Lực Thượng Đế, đá Téctits, kinh Giải oán nghiệp, để giúp vong siêu thoát. Giải trừ tất cả các thế lực vong âm, sinh vật vô hình, ô trược, độc tố, có ý nghĩa giải phóng nguyên nhân bệnh tật phiền não. Điều phục nghiệp tức khắc điều phục được Tâm.

 

VIỆC GIẢI OÁN NGHIỆP

Chúng ta đời đời kiếp kiếp học Phật tu hành không được thành tựu, không thoát khỏi luân hồi, là vì có oan gia trái chủ đến gây phiền phức, làm ma chướng, vì vậy oan oan tương báo khổ không kham nổi. Người học Phật đối với chúng sinh bất luận họ đến đòi nợ hoặc đến trả nợ đều khuyên họ niệm Phật, có thể chuyển tất cả thiện, ác, oán, thành Pháp duyên.

Mọi người đều có nghiệp chướng, nếu không có nghiệp chướng sẽ không phải sinh đến thế gian này. Làm sao để tiêu diệt nghiệp chướng ? Cổ đức khai thị nói rằng tốt nhất là Niệm A Di Đà Phật. Khi nghiệp lực hiện tiền, tu hành tinh tấn, thấy nhức đầu, đau chân hoặc các bộ phận khác không khỏe, có thể dùng phương pháp này. Trong lúc tu hành gặp chướng ngại dùng phương pháp này linh nghiệm”. (Pháp sư Tịnh Không- Cương lĩnh tu học Tịnh độ-NXB Tôn giáo 2012).

Phương pháp giải trược là giải nghiệp lực. Nghiệp lực là một dạng Năng lượng xấu, thâm căn cố chấp không rời, gây bệnh khó chữa, tai họa bất ngờ, oan trái, bi kịch triền miên... Giải trừ nghiệp lực, tạo nên sự chuyển hoá giữa Thiện và Ác trong mỗi con người. Khó khăn trong thời kỳ đầu luyện tập, có thể bị nghiệp lực chống đối. Nhờ Trí Huệ tỉnh táo sẽ vượt lên số phận. Không có mê tín dị đoan trên con đường Chân lý.

Bản kinh bản Xám hối của Hòa thượng Tịnh Không (Đài Loan), là cần thiết, phù hợp sự thật về thế giới vô hình. Thày bổ sung mục 1 của bản kinh này để học viên sử dụng thuyết phục vong âm thức tỉnh hiểu ra việc làm sai trái, mau tìm về Cội nguồn mới là nơi quê hương yên vui nhất. Kinh Đại Phúc đức, đã chỉ rõ những việc làm thiết thực để có đời sống giải thoát, rất lợi ích cho cả hai bên cùng hoan hỷ tỉnh ngộ. Chỉ cần đọc thành tâm, mà không thêm nghi lễ cúng bái khác, dành nhiều thời gian cho luyện tập.

Kinh giải oán nghiệp

1. Nam mô A Di Đà Phật cho con cùng tất cả chúng sanh trong đường địa ngục được diệt trừ tất cả ác nghiệp, được tăng trưởng Thiện căn, đồng vãng sanh Tây phương Cực lạc. (Lạy xuống niệm Nam mô A Di Đà Phật 9 lạy).

2. Nam mô A Di Đà Phật cho con cùng tất cả chúng sanh trong đường ngạ quỷ được diệt trừ tất cả ác nghiệp, được tăng trưởng Thiện căn, đồng vãng sanh Tây phương Cực lạc.

3. Nam mô A Di Đà Phật cho con cùng tất cả chúng sanh trong đường súc sinh được diệt trừ tất cả ác nghiệp,  được tăng trưởng Thiện căn, đồng vãng sanh Tây phương Cực lạc.

 4. Nam mô A Di Đà Phật cho con cùng tất cả mọi người được diệt trừ tất cả ác nghiệp, được tăng trưởng Thiện căn, đồng vãng sanh Tây phương Cực lạc.

5. Nam mô A Di Đà Phật cho con cùng tất cả chư Thiên được dứt trừ tất cả ác nghiệp, được tăng trưởng Thiện căn, đồng vãng sanh Tây phương Cực lạc.

 6. Nam mô A Di Đà Phật cho con cùng tất cả loài atula được dứt trừ tất cả ác nghiệp, được tăng trưởng Thiện căn, đồng vãng sanh Tây phương Cực lạc.

7. Nam mô A Di Đà Phật cho con cùng tất cả ông, bà, cha, mẹ quá khứ, hiện đời được dứt trừ tất cả ác nghiệp, được tăng trưởng Thiện căn, đồng vãng sanh Tây phương Cực lạc.

8. Nam mô A Di Đà Phật cho con cùng ….. (đọc tên người đó) được dứt trừ tất cả ác nghiệp, được tăng trưởng Thiện căn, đồng vãng sanh Tây phương Cực lạc.

 9. Nam mô A Di Đà Phật cho con cùng khắp pháp giới chúng sinh kẻ oán người thân, hữu duyên,vô duyên được dứt trừ tất cả ác nghiệp, được tăng trưởng Thiện căn, đồng vãng sanh Tây phương Cực lạc (Lạy xuống niệm Phật)               

1. Khuyên giải oán thù

Tôi tên…. Những oan gia trái chủ trên mình tôi (tức nghiệp lực của một bộ phận nào trên thân thể), xin quý vị hãy nghe rõ, từ vô thủy kiếp đến nay, vì tôi bị mê trong thế giới Ta bà, trong nhiều kiếp luân hồi, trong lúc vô ý đã làm tổn hại đến quý vị, khiến quý vị phải thọ vô lượng tội nghiệp trong lục đạo luân hồi, hứng chịu biết bao đau khổ, tăng thêm biết bao phiền não, tôi thường cảm thấy tội chướng sâu nặng, hối hận vô cùng. Tất cả đều do tôi mê hoặc vô tri tạo nên, đời này nhờ nguyện lực từ bi gia hộ của Phật tôi được kết pháp duyên với Phật, tôi không quên quý vị, thành khẩn hy vọng quý vị như tôi luyện tập, niệm Phật, tranh thủ sớm ngày tu hành giải thoát. Đồng thời hy vọng quý vị tha thứ cho tôi, đừng trả thù tôi. Nếu quý vị nhất định muốn báo thù tôi, tôi cũng không có cách nào lẩn tránh, vì đó là lỗi do tôi tạo ra, nên cũng phải chấp nhận quả báo. Nhưng nếu như vậy đối với quý vị cũng không có lợi ích gì, chỉ khiến quý vị cảm thấy khoái lạc nhất thời, nhưng đến cùng quý vị cũng không giải quyết được vấn đề căn bản, vì quý vị không tránh được sanh tử, thoát ra khỏi lục đạo luân hồi, gây thêm chướng nghiệp oán thù làm khổ người khác. Tôi nhận thấy cách này vừa tổn hại, lại không có lợi ích gì cho chính mình, đối với hai bên chúng ta đều không tốt lành. Vì vậy tôi thành khẩn khuyên quý vị như tôi luyện tập, học Phật, niệm A Di Đà Phật. Chỉ cần quý vị thâu lại thân tâm niệm thánh hiệu A Di Đà Phật, một niệm tương ứng hoành siêu tam giới, siêu thoát tam giới. Chỉ cần tinh tấn tu luyện sẽ được thành Phật. Chỉ cần quý vị thâu lại thân tâm niệm thánh hiệu A Di Đà Phật, một niệm tương ứng phước thọ tăng trưởng, tiêu diệt tai chướng. Chỉ cần tu hành đúng pháp, tất nhiên Đắc Đạo

2. Hành trình về Cội nguồn.    

 Chúng ta mải miết đi mãi rồi cũng có điểm dừng, suy nghĩ về cội nguồn của mình. Trí khôn bắt đầu phán xét Hạnh phúc ở đâu? May mắn cho ai biết được gốc gác của  mình từ đâu tới, và khởi đầu hành trình về Cội nguồn Khối sáng Prana, nhận thấy dòng sữa Mẹ Ánh sáng đang lặng lẽ nuôi mình. Đó là cuộc đổi đời, có từ bỏ, có mới mẻ, khám phá, lớn mạnh  thể xác lẫn tinh thần, có thể đương đầu với lực cản sức ỳ từ bao nhiêu kiếp sống. Để chiến thắng phải có Chính niệm tập trung vào mục đích, khơi dậy Sức mạnh Vô thức dũng mãnh mới thắng nổi sức cản ngược chiều..

Trí tuệ con người rất hạn hẹp so với vũ trụ mênh mang. Cuộc sống quanh chúng ta còn rất nhiều điều chưa biết hết về Thiện và Ác, ngay mình chưa hiểu hết bản thân mình. Vì thế hay mê lầm, tạo ác nghiệp, khổ đau triền miên, không thấy Cội nguồn mà nương tựa. Các nhà ngoại cảm thấu thị giỏi nhất cũng  thấy Cội nguồn ở đâu.

 May mắn thay có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người đã thấu thị được toàn thể vũ trụ, người duy nhất đã mô tả rõ cõi Ánh sáng thanh tịnh, gọi là cõi Cực lạc (Sumati), “Nơi đó có Đức Phật A Di Đà. Đức Phật ấy là Ánh sáng vô lượng, có thể soi chiếu khắp cả mười phương mà không bị ngăn cách. Đức Phật ấy hiện đang thuyết pháp. Nước Phật đó không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, ngay cả danh từ ác đạo cũng không có. Dân chúng trong đó không biết khổ là gì chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, sống lâu vô cùng đến bao nhiêu kiếp không thể kể xiết, vì thế nên gọi là A Di Đà. Tất cả những ai sinh về nước Cực lạc đều có tư cách Bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều vị đã là Bồ tát nhất sinh bố xứ (sinh một kiếp đã về Niết bàn), số lượng các vị này đông đảo vô cùng không đếm kể. Chúng sinh mọi nơi khi nghe nói tới nước Cực lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy, sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc Thiện Nhân cao đức. Cõi ấy chỉ lấy công đức mà tạo thành được. Vì vậy, những người con trai con gái nhà lành nào muốn sinh về cõi ấy thì phải hết lòng thực tập quán niệm danh hiệu Phật A Di Đà, theo phương pháp “Nhất tâm bất loạn”. Người ấy đến khi lâm chung sẽ được thấy Phật A Di Đà và các vị thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt. Trong giờ phút ấy, tâm ý người kia sẽ an trú trong định, không hề điên đảo tán loạn do đó người ấy được vãng sanh ngay về cõi Cực lạc. Nước Cực lạc đẹp tuyệt vời như thế. Vì thấy được lợi ích lớn lao này cho nên những ai đang nghe tôi nói hãy nên phát nguyện sinh về nước ấy (Trích : Kinh A Di Đà).

    Đức Phật dạy chúng ta niệm Đức Từ Phụ A Di Đà Phật. Đức Từ phụ nghĩa là bậc sinh thành. Chúng ta được sinh ra từ ánh sáng A Di Đà Vô lượng Quang, Vô lượng Thọ, Vô lượng Công đức, nơi quê hương thiêng liêng của chúng ta. Cõi Cực lạc là cõi Niết bàn hay Thiên đường cùng là một.

Cội nguồn chỉ có một, nhưng có nhiều danh từ chỉ Cội nguồn thiêng liêng : Đức từ phụ A Di Đà, Đức chúa trời, Thượng Đế, Trời, Tạo hóa, Năng lượng Prana. Niệm “Nam mô A Di Đà Phật” nghĩa là “Con kính ơn Ánh sáng Vô lượng Quang...” hoặc: “Con kính ơn Thượng Đế”. Lời lẽ  ngắn gọn tha thiết, từ trong tiềm thức đã có tình mẫu tử thiêng liêng. Lúc khẩn cấp kêu “Trời ơi” là  Ánh sáng tới trợ lực. Lòng biết ơn cho ta được hòa nhập khối sáng  yêu thương nơi Cội nguồn. Ô trược che lấp thì khó cứu.

 Chúng ta tự hào có người Cha quyền uy khắp vũ trụ, yêu thương và hiểu ta hơn ai hết. Lòng biết ơn có đầy đủ hết, không cầu khấn Cha đã biết. Nhờ nương tựa Cội nguồn mà chúng ta vượt qua khổ nạn ô nhiễm môi trường. Người bất hiếu khó qua được.

Thực hành  Giải ô trược là khởi đầu cuộc hành trình Thanh tịnh để trở về Cội nguồn. Về đến Quê hương thiêng liêng là chiến thắng tuyệt vời nhất trong mọi kiếp sống.

3. Kinh Đại phúc đức.

        Đây là những điều tôi được nghe hồi Đức Thế Tôn còn cư trú gần thành Xá Vệ, tại  tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn Kỳ Đà. Hôm đó trời đã về khuya, có một vị Thiên giả hiện xuống thăm người, hào quang và vẻ đẹp của Thiên giả làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, vị Thiên giả xin tham vấn Người bằng bài kệ: “Thiên và Nhân thao thức, muốn biết về phước đức, để sống đời an lành, xin Thế tôn chỉ dạy”. Và sau đây là lời Đức Thế Tôn:     

                      Lánh xa kẻ xấu ác                 (1)        

                      Được thân cận người hiền    (2)        

                      Tôn kính bậc đáng kính        (3)        

                      Là phước đức lớn nhất                         

                                 Sống trong môi trường tốt   (4)          

                                 Được tác tạo nhân lành        (5)          

                                 Được đi trên đường chánh   (6)          

                                 Là phước đức lớn nhất.                       

                      Có học (7) có nghề hay          (8)           

                      Biết hành trì giới luật              (9)           

                      Biết nói lời ái ngữ                  (10)           

                      Là phước đức lớn nhất.  

                      

                              

                                 Được cung phụng mẹ cha   (11)            

                                 Yêu thương gia đình mình   (12)           

                                 Được hành nghề thích hợp  (13)             

                                 Là phước đức lớn nhất.                         

                      Sống ngay thẳng (14), bố thí  (15)          

                      Giúp quyến thuộc, thân bằng  (16)           

                      Hành xử không tỳ vết              (17)           

                      Là phước đức lớn nhất.                             

                                 Tránh không làm điều ác         (18)

                                 Không say sưa nghiện ngập    (19)

                                 Tinh cần làm việc lành             (20)                     

                                 Là phước đức lớn nhất.   

                      Biết khiêm cung lễ độ    (21)             

                      Tri túc (22) và biết ơn    (23)                 

                      Không bỏ dịp học đạo    (24)             

                      Là phước đức lớn nhất

                                 Biết kiên trì phục thiện (25)         

                                 Thân cận giới xuất gia  (26)          

                                 Dự pháp đàm học hỏi   (27)            

                                 Là phước đức lớn nhất

 

                      Sống tinh cần tỉnh thức      (28)          

                      Học chân lý nhiệm màu     (29)         

                      Thực chứng được Niết Bàn (30)    

                      Là phước đức lớn nhất.

                                  Chung đụng trong nhân gian

                                  Tâm không hề lay chuyển  (31)      

                                  Phiền não hết an nhiên       (32)

                                  Là phước đức lớn nhất. 

                      Ai sống được như thế

                      Đi đâu cũng an toàn

                      Tới đâu cũng vững mạnh

                      Phước đức của tự thân.

             Quý vị thâu lại thân tâm cùng tôi niệm: “Con kính ơn Thượng Đế”  1 phút. (Hoặc Nam mô A Di Đà Phật). 

             Tôi đã thành tâm luyện tập được khai mở Lỗ hổng vô hình Hà Đào Thành trên đỉnh đầu để vong Siêu thoát. Tất cả oan gia trái chủ trên thân tôi, những lời này đều tặng cho quý vị, hy vọng quý vị đừng làm chướng ngại cho tôi, mau rời khỏi thân tôi, tìm về Cội nguồn, tu hành phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui Niết bàn tại thế.  

ĐOÀN THANH HƯƠNG

3/4/2018 9:36:06 AM
Các tin liên quan
CẤP HAI : KHAI MỞ HÀ ĐÀO THÀNH.  (32767)
CẤP BỐN: KHAI THÔNG KINH MẠCH  (32767)
CẤP NĂM :GIẢI NGHIỆP LỰC  (14934)
CẤP SÁU: NHẬP ĐỊNH  (3229)
CẤP BA : PHÁT TRIỂN NÃO BỘ, TUYẾN YÊN, TUYẾN TÙNG  (30249)
CẤP MỘT: BÀI THỂ DỤC VÔ THỨC  (29015)
SUY NGẪM VỀ BỆNH UNG THƯ  (12103)
Lịch
THỐNG KÊ
Hôm Nay:   5
Hôm qua:   5
Tuần này:   22
Tuần trước:   210
Tháng này:   1068
Tháng trước:   1575
Tổng cộng:   643028
Bản quyền tác giả Đoàn Thanh Hương
Đăng ký bản quyền tác giả số:4399/2008/QT
Giấy phép xuất bản số: 816-2013/CXB/09-31/HĐ