Cẩm nang luyện tập phòng chống ô nhiễm môi trường. " Nếu chúng ta làm sạch cơ thể hàng ngày, các tế bào có thể duy trì lâu hơn" - Dr.Alexis Carrel - Giải thưởng Nobel 1912
ẢNH ĐẸP
Bà Nguyễn Thị Ninh báo cáo vượt qua bệnh kiệt sức
Ông Nguyễn Thúc Tề, báo cáo nhận thức về Sức mạnh vô thức
Năng lượng phủ kín hội trường, các hình ảnh không rõ nét, ai cũng được nhận năng lượng vi tế
Ánh sáng vi tế 1
THỨC ĂN THẦN DƯỢC

THỨC ĂN  THẦN DƯỢC

Thức ăn  cung cấp năng lượng, và cân bằng âm dương cho cơ thể, để kiến tạo tế bào, xây dựng cơ thể, tạo dòng máu tốt. Thức ăn còn có vai trò quan trọng với trí tuệ,  tạo ra sự quân bình tinh thần.

      Nhóm chất đạm Protein:  gồm những chuỗi acid amin chứa nitơ. Chất đạm cần thiết để xây dựng tế bào và duy trì cấu tạo cơ bắp, máu, da, xương, và bộ phận của cơ thể.  Tạo các men tiêu hóa, các hormon, các kháng thể giúp cơ thể chống đỡ bệnh tật và dịch bệnh.  Tạo các nội tiết tố  giúp duy trì các phản ứng trong huyết tương, dịch não tủy, dịch ruột… Có 22 loại đạm cần thiết, trong đó có 8 loại acid amin cơ thể không tự tổng hợp được mà phải cung cấp từ thức ăn bên ngoài đưa vào (là leucin, isoleucin, methionin, tryptophan, phenylalanine, threonine, valine, lysine). Chất đạm  đặc biệt quan trọng tới hoạt động của não.  Não được cấu thành chủ yếu từ nước và a xít béo. Sử dụng năng lượng chủ yếu từ đường glucose. Protein cực kỳ quan trọng với hoạt động não, tạo ra chất dẫn truyền thần kinh, giúp não bộ điều khiển và duy trì hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Cần  cung cấp đủ chất đạm trong khẩu phần ăn. Đặc biệt thời kỳ mang thai và 3 năm đầu đời, protein rất cần thiết cho sự phát triển não bộ của trẻ.  Nếu thiếu đạm sẽ trì trệ hoạt động não, teo não, và rất nhiều hệ lụy sức khỏe và tính mạng.  Nếu dư thừa loại đạm khó tiêu hóa, sẽ trở thành tai nạn sức khỏe. Chất đạm có nhiều trong động vật và thực vật. Một ngày cần 1g đạm/1kg cơ thể. Người 40 kg cần 40g đạm.

       Nhóm tinh  bột và đường Gluxit- Carbohydrate: Cung cấp năng lượng chính cho hệ thống thần kinh  và các cơ quan trong cơ thể. Thành phần cấu tạo  tế bào và các mô, điều hòa hoạt động cơ thể, cung cấp chất xơ cần thiết.

 Nhóm chất béo Lipit: Cung cấp năng lượng, giúp hấp thu các vitamin tan trong dầu mỡ như vitamin A, D, E, K. Thành phần chính của các tế bào thần kinh, và màng tế bào cơ thể.  Giúp sự phát triển các tế bào não và hệ thần kinh, và  cấu tạo một số loại hormon

  Nhóm Vitamin và khoáng chất: còn gọi là các nguyên tố vi lượng. Nhóm chất này không sinh ra năng lượng. Nhưng lại có vai trò rất quan trọng, tạo ra các phản ứng hóa học chuyển hóa dinh dưỡng. Chỉ cần một lượng rất nhỏ vi chất dinh dưỡng. Nếu thiếu sẽ dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng cho cơ thể, đặc biệt là trẻ nhỏ. Cơ thể cần trên 20 loại vitamin và trên 20 loại khoáng chất cần thiết.

Đó là bốn thành phần không được thiếu trong khẩu phần ăn. Thức ăn là bài toán trí tuệ giúp cơ thể cân bằng dương duy trì sự sống. Ăn uống đúng sẽ tăng sức đề kháng, trở thành  thuốc chữa bệnh. Xem bài Quy luật cân bằng âm dương.

Bốn thành phần không được thiếu trong khẩu phần ăn. Thức ăn là bài toán trí tuệ giúp cơ thể cân bằng dương duy trì sự sống. Ăn uống đúng sẽ tăng sức đề kháng, trở thành  thuốc chữa bệnh. Xem bài Quy luật cân bằng âm dương.

Thức ăn  là một tiêu chí chưa thống nhất giữa dinh dưỡng và tôn giáo. Chủ yếu xoay quanh việc tiêu thụ chất đạm động vật hay thực vật ? Chất đạm đóng vai trò dẫn truyền thần kinh, vô cùng quan trọng với não.  Dù ăn chay hay mặn không đúng sẽ sinh bệnh.  Đạm động vật khó tiêu hóa, ăn thừa sẽ gây ung thư. Ăn chay thiếu đạm cũng sinh bệnh. Đồ chay rau quả nhiễm hóa chất độc rất nhiều. Đồ chay giả mặn, tẩm trộn phụ gia pha chế cầu kỳ phức tạp, càng không phải thức ăn sạch. Ăn thực dưỡng với đồ khô để lâu dễ bị nấm mốc hoặc mặn chát,  nhiều khi có hại. Gạo lứt rất nhanh mốc, sát vỏ sau 10 ngày bắt đầu mốc, gây bệnh. Thực phẩm đóng gói rút chân không vẫn  phát triển vi khuẩn yểm khí có độc tố chết người.  Khó lòng kiểm soát  được tình hình nấm mốc, thuốc bảo quản, thuốc sâu, phụ gia trong đồ khô, hạt khô.

         Ăn thiếu đạm gây teo não, và các bệnh rối loạn chuyển hóa. Thức ăn phải  đủ thành phần đạm động thực vật  cần thiết cho não. Rau xanh, tinh bột, đường, không thay thế  được Protein.

Khái niệm sát sinh cần phân loại cụ thể hơn. Sát sinh động vật có não bộ phát triển, sự đau đớn giận dữ trước khi chết, sẽ phát sinh độc tố phóng vào máu nhiễm trược nặng. Ăn thức ăn này lãnh nhận trược khí, nuôi bệnh, và hay nóng nảy, phiền não. Đạm động vật còn  nhiễm nhiều hóa chất trong chăn nuôi và chế biến. Động vật cấp thấp, não bộ không phát triển, ít phát sinh trược khí, được coi là thức ăn sạch, dùng với nhiều loại đạm thực vật phong phú.

Thức ăn sạch là thức ăn không nhiễm hóa chất, không nhiễm trược, nấm mốc, không hại sức khỏe. Thực phẩm tươi sạch chứa nhiều năng lượng Prana. Để tủ lạnh dù nhìn thấy tươi nhưng năng lượng đã  giảm.

Chất đạm cao cấp dễ hấp thụ và sạch nhất là đạm chứa trong Địa long, là tinh hoa của đất phù hợp  với cơ thể, được hấp thụ nhanh nhất. Sau 15 phút bắt đầu có tác dụng.

 Nhóm đạm thực vật: Trong 100g thì kê có 11g đạm. Ý dĩ có 16g. Gạo lứt có 7,9g. Gạo trắng có 5,5g. Hạt đậu Hà lan 22g. Kiều mạch 23g. Một cây súp lơ xanh có 8g. Đạm thực vật có nhiều trong nấm, quả đậu Rồng, đậu hạt, rong biển Wakame, tảo, hạt óc chó, hạt hạnh nhân, hạt điều, macadam, rau đay, rau ngót. Lạc dễ bị nấm mốc. Đậu tương bị nghi ngờ có tác dụng phụ.

Chất béo sạch là dầu ô liu, dầu cá, mỡ cá hồi, dầu vừng, dầu cám, dầu óc chó... Dầu ép nguyên chất giá 200 ngàn trở lên. Dầu ăn tinh luyện rẻ tiền, nhưng tạo axit bất lợi, làm sơ cứng, tắc  mạch máu, không ăn thì tốt hơn. Hạn chế ăn món chiên rán nướng ở nhiệt độ cao. Chế biến đơn giản thì an toàn hơn.

Đường sạch là mật mía, mật ong, đường phèn, đường thốt nốt.  Nhưng phụ thuộc cách làm của nhà sản xuất.  Tinh bột cung cấp đường đầy đủ trong cơm, bánh mì…Không ăn tinh bột thì phải bổ xung đường. Đường tinh luyện không tốt cho sức khỏe.

Ăn dư thừa đạm, đường, chất béo, sẽ tăng cân nhanh chóng, và gây ra tình trạng thiếu kiềm và dư thừa axit, mất cân bằng âm dương.

Nếu đói ăn không đủ dinh dưỡng sẽ bị tổn thọ. Nhịn ăn quá 12h thì hết năng lượng từ thực phẩm, cơ thể chuyển sang chế độ tiêu thụ chất dự trữ, giải phóng đường mỡ dư thừa. Nguyên khí được huy động để duy trì các hoạt động tiêu thụ chất dư thừa... Nhịn ăn hỗ trợ chữa bệnh, có mặt trái bị tiêu hao nguyên khí không bù lại được.

Việc ăn uống phải  phù hợp để giúp cơ thể  cân bằng âm dương.  Người tu luyện cao, năng lượng gốc dồi dào đạt được cân bằng âm dương thì nhu cầu thực phẩm giảm hẳn, không cần ăn uống nhiều. Nhưng nếu người bình thường bắt chước ăn ít như vậy sẽ bị thiếu dinh dưỡng, gây hậu quả nghiêm trọng tổn thất nguyên khí, lâu dài phát sinh bệnh tật khó chữa, tổn thọ. 

Thực phẩm bẩn là thực phẩm đã tinh luyện bị  axit hóa, như bột nêm, và các chất bảo quản, chất tạo màu, chất tạo ngọt, tạo mùi thơm, chất kích thích tăng trưởng, chất tạo xốp, chất tạo dẻo, tạo dai,  tạo ròn. Đã được pha chế vào bánh kẹo, nước ngọt,  gạo, thịt, mỳ ăn liền, đường, sữa, nước mắm, rau, quả, nước giải khát, thuốc tây, mỹ phẩm…Đó là thảm họa tàn phá cơ thể. Nếu không tự kìm chế  thói tham ăn, ăn theo khoái khẩu, sẽ phải đối mặt với tương lai bệnh tật rất đau khổ.

* Cách ăn cũng là giải pháp chữa bệnh: Nhai kỹ để tiết nhiều nước bọt. Nước bọt có các loại men, enzyme, và hooc môn quý giá nhất chỉ có trong nước bọt.

- Nhai kỹ làm chuyển hoá toàn bộ thức ăn: Nước bọt có chứa các enzym tiêu hoá, men tyalin để phân giải ngũ cốc thành đường đơn glucoza. Ăn đúng sẽ cảm thấy vị ngon ngọt của đường glucoza. Nếu nhai vội, nhai ít, các men tiêu hoá không thẩm thấu vào thức ăn, khó tiêu thụ. gây nên đầy bụng, khó chịu, táo bón. Thức ăn bị ứ đọng trong đường ruột, lên men phát sinh độc tố  vào máu.

- Nhai kỹ kích thích toàn bộ hệ thống tiêu hoá, đặc biệt kích thích tuyến nước bọt tiết suất tốt. Dạ dày, mật tiết ra nhiều dịch vị, gan, tuỵ tạo nhiều dịch tiêu hoá.

- Nhai kỹ làm giảm béo, chống lại bệnh tật. Các tuyến nước bọt được huy động đầy đủ để sát khuẩn và tiêu hóa

- Nhai kỹ làm cơ thể trẻ thêm: Loại hooc môn đặc biệt ở tuyến nước bọt mang tai, chảy qua miệng khi nhai, là một loại hooc môn duy nhất kích thích sự trao đổi chất của tế bào và làm mới toàn bộ cơ thể. Còn kích tuyến Yên tạo ra nhiều tế bào T, tăng cường hệ miễn dịch. Thường xuyên nhai kỹ đã tiếp nhận loại hooc môn quý giá nhất.

Một số thức ăn cần thiết:   

- Bột sắn dây: là thức ăn tạo kiềm, làm mát cơ thể, giảm đau, là vị thuốc Cát căn trong hầu hết bài thuốc. không gây sạn thận. Dùng bột sắn dây thải độc. Hàng ngày dùng1-2 lần. Pha 2 thìa cơm bột sắn dây với nước dấm táo, hoặc mơ muối, chanh muối. Có thể pha với nước mát hoặc nước  nóng. Tác dụng thải độc, giảm đau. Người thể hàn,  huyết áp thấp   không  uống bột sắn dây.

 - Trứng gà ngải cứu: Thái nhỏ ngải cứu trộn đều với trứng gà tươi, đem rán, hoặc nấu canh. Ăn xong thiền 10 phút giải trược, thông kinh mạch. Không ăn nhiều.

- Rau diếp cá: ăn tươi, hoặc ép nước uống. Trong diếp cá có kháng sinh tự nhiên, đặc biệt tốt cho trẻ nhỏ.

- Ăn nhiều rau củ quả tươi sống bằng cách trộn salat với muối, chanh, nước mơ, dầu oliu hoặc dầu vừng.

- Nước mơ muối: 1kg mơ rửa sạch, để khô ráo, cho 150g muối hạt ướp trong hũ thủy tinh 1 tháng, chắt ra nước cốt mơ  pha nước uống tạo kiềm, pha nước chấm,  hoặc dùng trộn salat rau.  Nước mơ dùng ngay không nên để quá lâu vitamin C quá hạn sẽ chuyển màu đen.

- Nước dấm táo (táo mèo Sapa, táo tây):  1kg táo mèo rửa sạch để khô ráo, xay nhuyễn với 1 lít nước đun sôi để nguội. Dụng cụ phải sạch. Nước có váng trắng hớt bỏ váng. Ngâm 3 tháng lọc bã, được nước dấm táo. Pha  nước uống tạo kiềm. Hạ mỡ máu, huyết áp cao.

 - Gừng:  thực phẩm tao kiềm tăng khả năng tiêu hóa. Dấm gừng xoa khớp  giảm đau, giải tà khí vùng bệnh.

- Nghệ, tỏi: thực phẩm tao kiềm, sát khuẩn, chống viêm nhiễm, tái tạo da, giảm đau, hỗ trợ chữa ung thư  và các chứng viêm.

- Ổn định tim mạch, huyết áp cao, hạ mỡ máu: Đan sâm 2 lạng. Tam thất 1 lạng. Xay thành bột. Mỗi ngày 10g uống buổi sáng dậy, pha nước mát hoặc nước ấm, để 30 phút cho ngấm rồi uống.

       -  Đạm Địa long:  Địa long khô có tỷ lệ đạm 60% là tỷ lệ  đạm cao nhất trong động thực vật. Điều cực kỳ quý báu của đạm địa long là thức ăn tạo kiềm.  Có tính hàn, làm mát cơ thể, thải độc.  Là loại đạm quý nhất  cho  não, vì ngấm vào tuyến Yên. Phục hồi suy  nhược tuyến Yên, và khắc phục các di chứng tổn thương trên cơ thể. Được cơ thể hấp thụ rất nhanh.  Vì vậy có tác dụng  cấp cứu phục hồi sức khỏe khi kiệt sức, thì dùng 5g-10g tinh bột đạm Địa long. Địa long là tinh hoa của đất, bổ xung nguyên khí. Rất nhiều tác dụng quý báu chúng ta chưa biết hết.

         Tự làm bột Địa long:  Mua Địa long khô ở Phố Lãn Ông, cửa hàng Đông Y. Chú ý chọn loại tốt, ít mùi hôi.  Địa long dược liệu đã làm sạch đất. Không được dùng giun quế là giun nuôi làm thức ăn gia súc, có nhiễm kim loại nặng, không đạt chỉ tiêu  an toàn thực phẩm. 

Địa long khô cho vào nồi hấp kỹ. Hấp xong phơi khô, rồi làm sạch đất. Cắt địa long theo chiều dọc, cho vào bao dứa đập long bụi đất, rồi rửa sạch phơi khô. Đem rang lửa nhỏ khô ròn, nếu bị cháy phải bỏ đi. Đậu xanh, đậu đen rang vàng. Rau ngót chặt nhỏ, phơi khô, rang khô ròn. 4 vị tán bột, tỷ lệ: 1, 1, 1, 1. Mỗi lần dùng 15g  hòa 1 bát nước, đun bột sôi kỹ. Bồi dưỡng sức khỏe mỗi ngày 1 lần. Nếu mệt nặng 3-4 lần/ ngày. Bị tiêu chảy không dùng Địa long. Nếu bột mốc phải bỏ đi. Người ăn kiêng các thành phần trên thì không dùng. Người thể hàn  khi dùng có thể bị tiêu chảy nhẹ, thì tăng thêm 3 lát gừng. Bột địa long khó dùng vì  có mùi tanh.

          Tinh bột cao Địa long được chế biến công phu hơn, đã khử hết mùi tanh mà vẫn giữ nguyên dinh dưỡng,  vị ngọt thơm, sạch hoàn toàn tự nhiên 100%, không có phụ gia hóa chất. Pha nước ấm uống liền. Là thức ăn bổ dưỡng cho mọi người, trẻ em,  phụ nữ có thai, người già, người bệnh, người lao động trí óc, thi cử, thi đấu, tu luyện... Bồi dưỡng chức năng não, thần kinh, tim mạch, tiêu hóa, bài tiết, nội tiết, xương khớp, tan cục máu đông, chữa tai biến não, trầm cảm, sốt xuất huyết, sốt rét ác tính, suy nhược kiệt sức, mất ngủ, thiếu máu, loãng xương, tiểu đường...  Có nhiều đạm Colagen  làm dai thành mạch,  cấu tạo màng tế bào,  chắc xương. Làm đẹp  da  hồng mịn, săn chắc.                                                                                                                     ĐOÀN THANH HƯƠNG

           

  MỘT SỐ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

       VỀ ĐỊA LONG.

 

       1. Chìa khóa bt t trong tay con giun

            Các nhà khoa hc Anh đã nghiên cu loài giun dp nhm tìm kiếm chìa khóa mang đến s bt t cho con người. Loài giun này có kh năng tái sinh l lùng để vượt qua s lão hóa.

          Mt công trình nghiên cu đăng trên Tp chí Proceedings of the National Academy of Sciences cho biết, loài giun dt có th duy trì liên tc độ dài ca telomer bao gm các ADN. Mt trong nhng gi thuyết ph biến nht v s lão hóa ca các sinh vt nói rng nguyên nhân ca hin tượng này là vì phn cui ca nhim sc th tế bào gi là telomer c b ngn dn li. Ti khi nào chúng biến mt hoàn toàn thì tế bào s chết. Chính telomer xác định s lượng các phân chia tế bào trong cuc đời, chu trách nhim v s bo qun b gen và bo v nhim sc th khi tác động ca các yếu t tiêu cc.

         T lâu, các nhà khoa hc đã rt chú ý đến giun dp vì kh năng tái sinh phi thường ca chúng. H tìm hiu c 2 loi giun: loi sinh sn thông qua gii tính (sinh sn hu tính) và loi sinh sn bng cách phân chia (sinh sn vô tính ví d khi b ct làm đôi chúng s biến thành 2 con giun mi).

        Ông Aziz Abubaker, Trưởng nhóm nghiên cu Trường ĐH Nottingham nói: "Hin chúng tôi đang tìm cách gii thích vì sao mà nhng con vt này không bao gi chết t nhiên” thông qua 2 loi giun trên. 

        C 2 loi đều có kh năng khôi phc các cơ, da, ni tng, thn kinh. Song loi giun sinh sn vô tính có ưu đim hơn ch chúng có th khôi phc d tr loi men (ferment) then cht, có kh năng làm nên s bt t.   

        Nhng công trình nghiên cu mang đến cho các tác gi gii Nobel Y hc năm 2009 đã chng minh rng, hot tính ca telomer ph thuc vào men telomeraz. Trong đa s các sinh vt sinh sn bng phương pháp hu tính, men này tách ra giai đon phát trin đầu tiên. Ông Abubaker cũng phát hin ra là lượng men này trong cơ th nhng con giun dp sinh sn vô tính tăng lên rt rõ rt trong giai đon tái sinh.

      Giáo sư Douglas Kell - Ch tch Hi đồng nghiên cu khoa hc v Công ngh sinh hc nhn định, kết qu ca nghiên cu mi là "vô cùng hp dn". Chúng đã đóng góp rt ln vào nhng hiu biết cơ bn v mt s quá trình liên quan đến s già nua ca con người, điu chng my ai thích thú.

                                                             Bo Châu (utro.ru)

 

  

2.    Chinh phc Sao Hỏa thành bại nhờ giun.

         Loài vt bé nh, yếu t này li đang nm trong tay chìa khóa để con người hóa gii bí n ca Hành tinh đỏ.

        Các nhà khoa hc đang nín th theo dõi s phát trin và sinh sn qua 12 thế h ca mt loi giun có tên Caenorhabditis (tc C.elegans) trên trm vũ tr ISS. H hy vng vic nghiên cu nhng con giun sinh trưởng trong môi trường không gian này có th giúp con người đương đầu vi nhng nguy cơ và s gian kh ca mt hành trình kéo dài t Trái đất lên sao Ha.

          Chia s trên Space.com, trưởng nhóm nghiên cu – Nathaniel Szewczyk ca Đại hc Nottingham (Anh) cho biết t lâu, khoa hc đã biết được giun có th phát trin và sinh sn trong không gian. Quy trình này có th din ra rt dài, tri qua nhiu đời giun và con người có th theo dõi “sc khe” ca nhng con giun mi t mt đất.

           Do đó, sâu C.elegans là mt gii pháp r mà hiu qu để khám phá, nghiên cu nhng tác động sinh hc mà mt chuyến du hành không gian dài hơi có th gây ra cho sinh vt. Trên thc tế, loài giun này đã là đối tượng nghiên cu quen thuc ca gii sinh hc t nhiu năm nay. Đơn c như năm 1998, giun C.elegans là động vt đa bào đầu tiên có bn đồ gene được xây dng hoàn chnh.

          Theo ông Szewczyk, giun C.elegans có khong 20.000 gene mã protein, gn bng con người (khong 23.000 gene). Hơn na, h gene ca người và giun C.elegans cũng có rt nhiu đim tương đồng, chng chéo, vi chc năng nhim v ging nhau.

           Nhóm ca ông đã gi 4000 con giun C.elegans lên trm ISS theo tàu không gian Discovery STS-116, được phóng vào tháng 12/2006. Trong ba tháng kế đó, đàn giun vn tăng trưởng và sn sinh bình thường bt chp môi trường phi trng lc.

        Các nhà nghiên cu tin rng, vic nghiên cu k hơn v s sinh trưởng, sinh sn ca giun C.elegans s giúp con người khc phc mt s th thách chính trong tiến trình chinh phc sao Ha như thoái hóa cơ bp, nhim x....

         “Dù có v bt ng nhưng nhng thay đổi v mt sinh hc xy ra trong chuyến du hành người và giun là khá ging nhau”, ông Szewczyk khng định.

                                                         Trng Cm

 

    

3.    ĐỊA LONG - Nguồn dược liệu quí

Từ xa xưa, loài người đã sử dụng giun đất để làm thuốc. Ở Trung Quốc, việc sử dụng giun đất trong y học đã có lịch sử hơn 1.000 năm. Trong cuốn “ Bản thảo cương mục” nổi tiếng của y học cổ truyền Trung Hoa có ghi chép: “Giun là nguyên liệu sản xuất 40 bài thuốc, chữa được rất nhiều loại bệnh”.

Nhờ việc chứa hàm lượng rất cao của Axit Linoleic, cùng khoáng chất vi lượng đặc hiệu chống oxy hóa là Se, giúp tăng năng lực sát khuẩn, tăng cường miễn dịch, nâng cao sức đề kháng trong cơ thể, nên tăng được khả năng chống ung thư, giảm hội chứng thiểu năng trí tuệ (bệnh Dow) ở trẻ em; ổn định sự hoạt động của cơ tim nên phòng được các bệnh bất thường về tim, ngăn ngừa viêm gan, loét dạ dày, viêm đường ruột, thấp khớp, viêm họng, tiểu đường, yếu về sinh lý. Hàm lượng Zn có trong giun giúp điều trị đối với những trẻ em biếng ăn, tóc thưa, chậm lớn, ngăn ngừa sự phát triển không bình thường về tri giác và thính giác ở trẻ em. Ngoài ra nó còn điều trị suy nhược thần kinh, trí nhớ kém, ngủ kém, khứu giác bất thường.  

Trong các tác dụng chữa bệnh của giun đất thì tác dụng cấp cứu những trường hợp đột quỵ do tai biến mạch máu não được quan tâm nhiều nhất. Từ năm 1911 các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm thấy trong giun đất có hoạt chất Lumbritin có tác dụng phá huyết ứ. Ba loại men chủ yếu có trong giun là: Earthworm, Fibrinolytic Enzym (EFE) Earthworm CollagemaseLumbrokinase, khi tiến hành điều trị lâm sàng qua đường tiêu hóa, sẽ hấp thụ vào máu, làm tan nhanh các cục máu đông gây nghẽn mạch. Men không độc, không có tác dụng phụ về xuất huyết, dễ sử dụng, giá rẻ, được coi là thuốc chữa nghẽn mạch lý tưởng. 

Ở Việt Nam, toa thuốc và tên bài thuốc sử dụng giun đất chữa tai biến mạch máu não đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, được in lại trong cuốn sách “Hai trăm bài thuốc quí” của ông Lê Văn Tình vào năm 1940. Sau này, bài thuốc đã được ông Nguyễn An Định,  cho phổ biến trên một số tờ báo. Bài thuốc cũng đã được bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, cho phổ biến để sử dụng hữu hiệu trong đợt chống dịch sốt xuất huyết tại các tỉnh miền Bắc vào năm 1969. Cho đến nay, bài thuốc đơn giản này đã cứu chữa và phục hồi rất nhiều trường hợp hôn mê do đột quỵ.

Tiềm năng sử dụng các chế phẩm từ giun rất lớn, nhưng hiện nay mới sử dụng được khoảng 5 % nguồn giun nuôi và thu gom được để làm dược liệu. Việc nghiên cứu các chế phẩm giun để chữa bệnh và làm thực phẩm bổ dưỡng vẫn cần tiếp tục được tiến hành.

                                                     Sưu tầm

.




9/10/2021 6:01:50 PM
Các tin liên quan
CẤP HAI : KHAI MỞ HÀ ĐÀO THÀNH.  (32767)
TẠI SAO CẦN QUAY VÀO BÊN TRONG  (1051)
CẤP BA: KHAI THÔNG KINH MẠCH  (32767)
CẤP SÁU: NHẬP THẤT  (1131)
SUY NGẪM VỀ BỆNH UNG THƯ  (10906)
CẤP MỘT: BÀI THỂ DỤC VÔ THỨC  (26432)
Lịch
THỐNG KÊ
Hôm Nay:   6
Hôm qua:   41
Tuần này:   369
Tuần trước:   580
Tháng này:   2577
Tháng trước:   2967
Tổng cộng:   614895
Bản quyền tác giả Đoàn Thanh Hương
Đăng ký bản quyền tác giả số:4399/2008/QT
Giấy phép xuất bản số: 816-2013/CXB/09-31/HĐ