Cẩm nang luyện tập phòng chống ô nhiễm môi trường. " Nếu chúng ta làm sạch cơ thể hàng ngày, các tế bào có thể duy trì lâu hơn" - Dr.Alexis Carrel - Giải thưởng Nobel 1912
ẢNH ĐẸP
Bà Nguyễn Thị Ninh báo cáo vượt qua bệnh kiệt sức
Ông Nguyễn Thúc Tề, báo cáo nhận thức về Sức mạnh vô thức
Năng lượng phủ kín hội trường, các hình ảnh không rõ nét, ai cũng được nhận năng lượng vi tế
Ánh sáng vi tế 1
BẮT MẠCH BỆNH

BẮT MẠCH BỆNH

Hoạt động kinh mạch huyệt đạo phản ánh tình trạng sức khỏe. Nghẽn tắc kinh mạch sẽ tạo mầm bệnh, đau nhức. Có bệnh lâu năm, bệnh nan y, tức là sự nghẽn tắc sâu đậm, rất kiên trì mới khai thông được.

Cách bắt mạch bệnh: Bao giờ cơ thể cũng báo mầm bệnh trước nhiều năm tháng. Ung thư báo trước 5-6 năm (nhiều nốt chai da ở gốc ngón tay). Vô thức báo bệnh rất sớm và chính xác, kể cả bệnh cũ nếu chưa khỏi. Tự bắt mạch là dựa vào dấu hiệu báo đau, rung nháy, tê... thấy rõ chính xác hơn người bên ngoài bắt mạch không rõ chỗ đau bằng chính bản thân cảm nhận. Vô thức báo mầm bệnh sớm hơn xét nghiệm máu, máy móc. Điều chỉnh sớm thì không phát bệnh.

Bắt mạch phải xác định 2 việc : Tìm kinh mạch  bệnh, và tìm điểm đau, huyệt bệnh, u cục, hạch.

         - Tại vùng đang đau, cần ấn chọc ngón tay vào dò tìm ra điểm đau nhất, để tập trung giải trược đúng điểm đau mới khỏi.

           - Khi nắn bóp giải trược thấy có khớp ngón hơi đau, hoặc rung nháy trong người, là kinh mạch bệnh.

- Ngón tay cái ấn sâu vào đầu kinh mạch. Nếu hơi đau, là kinh bệnh. Miết ngón tay cái dọc xương bàn tay chân, thấy đau dọc đường kinh là có kinh bệnh.   Khớp ngón có đường chỉ sẫm màu là kinh bệnh.

- Thăm khám y tế, xét nghiệm, chiếu chụp, có bệnh gì thì tự xác định bệnh thuộc kinh mạch nào

    - Đá  hút mạnh ở đâu, chỗ đó nhiều ô trược.

- Xem xét một số khu vực ở bàn chân, bàn tay. có chai da, sần cứng, thâm tái, cộm cứng là nơi ô trược

- Chọc tay, ấn nắn cổ, bẹn, nách, ngực, bụng... phát hiện hạch, điểm đau. Phụ nữ có mảng cộm dầy sườn nách, phải đặt đá, đặt tay sẽ tan đi, tránh ung thư vú.

         Khi luyện tập nắn bóp ngón tay chân thấy kinh mạch nào hơi đau, hoặc có chai da, là có bệnh  ở kinh đó.  Nắn bóp kinh Can, Tỳ, Vị thấy hơi đau, do vấn đề ăn uống không tiêu hóa hết hoặc có độc không phù hợp phải điều chỉnh ăn uống. Nắn bóp thấy đau ở điểm Trường sinh, hoặc có chai, cục cứng ở đó, là bệnh suy tuyến Yên. Dấu hiệu nghiêm trọng nhất là chai da ở gốc ngón út, hoặc nắn bóp kinh Tam tiêu hơi đau, là có vấn đề ô nhiễm vượt qúa mức kiểm soát của cơ thể. Kinh Tam tiêu là kinh bảo vệ ngũ tạng.  Phải rà soát các yếu tố gây nhiễm trược, và luyện tập tích cực. Nếu không giải quyết hết sẽ dẫn tới bệnh nan y, ung thư.

          Chữa  kinh bệnh và  huyệt bệnh  thường gặp:

     - Bệnh tim mạch : huyệt Linh đài. Kinh Tâm, Tâm bào.

       - Bệnh hô hấp : huyệt Đại chùy. Kinh Phế. Chữa xoang, mũi, phổi, họng, các bệnh về da, thanh quản, lưỡi

    - Bệnh Tiêu hóa, Bài tiết : huyệt Mệnh môn. Kinh Tam tiêu. Tùy theo bệnh chữa kinh Can, Tỳ, Vị, Đại trường, Tiểu trường, Thận, Bàng quang, Đởm

     - Bệnh sinh dục, sinh sản, u buồng trứng, u tiền liệt tuyến: Huyệt Trường cường, Quan nguyên. kinh Trường sinh, Can.

- Bệnh tiểu đường: chữa kinh Tỳ, và đặt tay vào lá lách (giữa bụng), huyệt Mệnh môn.

 -Bệnh gút: Kinh Can, Thận, huyệt Mệnh môn, Dương cương, Dũng tuyền, tuyến nước bọt.

- Bệnh khớp, đau răng, lợi, miệng:  Kinh Thận, huyệt Dũng tuyền,  Dương cương, Mệnh môn  

    - Bệnh HIV/SIDA : Kinh Phế, Can, Trường sinh. Xông hơi 1h-1,5h mỗi ngày.

       - Pakinson: Kinh Phế, Trường sinh, cổ tay, khuỷu tay.

       - Bệnh mắt: Huyệt Ấn đường. Kinh Trường sinh, Can. Chữa gò xương quanh mắt: Đặt đá, đặt tay điểm đầu, giữa và cuối lông mày (đuôi mắt),  và xương gò má  

          Nguyên nhân bệnh khó chữa:

         Luyện tập Vô thức 3-5 năm về căn bản đã hoàn thành suất sắc việc khai thông kinh mạch, khỏi một số bệnh nan y.  Một số ca bệnh nghiệp nặng khó chữa.  Thày đã tìm ra nguyên nhân bệnh khó chữa, do lỗi hệ thống Não bộ, là bệnh căn nghiệp nặng nhất. Không có thuốc chữa hoặc phẫu thuật cắt bỏ. Cả Đông y, Tây Y, Dưỡng sinh, đều bó tay. Phương pháp Vô thức có cơ hội chữa được những bệnh khó chữa. Phải  có bản lĩnh tập trung giải quyết 3 việc sau:

1.      Nếu thở rít là dấu hiệu bệnh nặng chưa thuyên giảm. Cần tập trung giải nghẽn thở. Nếu không giải được Giải nghẽn thở, không  khỏi bệnh.

2.      Khuỷu tay, cổ tay liên hệ với thân não. Chữa khuỷu tay, cổ tay 1h trở lên sẽ cải thiện não, điều hòa khí toàn thân. Tắc khuỷu tay thì  không chữa khỏi bệnh.

3.      Điều chỉnh kinh mạch trọng điểm.

          Người bệnh nặng nguy hiểm tính mạng phải tập trung nỗ lực cao nhất, giải quyết 3 việc trên, luyện tập  cả ngày, dành nhiều thời gian giải trược khuỷu tay, thiền Trường sinh, thiền Hà Đào Thành, thiền kinh bệnh, tẩy não... Người nhận thức đầy đủ sự hướng dẫn của Thày, mới có cơ hội vượt qua tình huống hiểm nghèo. Nếu bệnh quá nặng mà sức yếu không giải hết ô trược thì yên tâm chấp nhận thay đổi thân xác mới.

                 *  Người có bệnh mỡ máu cần biết:  Khi tế bào lão hóa, tình trạng rối loạn mỡ máu sẽ xuất hiện. Thành phần mỡ xấu (LDL) tăng trong máu, tạo ra các mảng bám vào thành mạch, gọi là vữa xơ động mạch. Các mảng xơ vữa có thể hình thành từ rất sớm, nhưng diễn biến chậm, và có thể không gây hậu quả gì nghiêm trọng, không cảm thấy khó chịu gì trong thời gian dài 10-30 năm.  Vữa xơ động mạch, huyết khối chính là thủ phạm gây thiếu máu cơ tim, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tai biến não, gây tử vong. Người có bệnh mỡ máu cao, có xơ vữa động mạch cần nắm vứng  hai cách sử lý:  

      1. Cấp cứu tai biến não:  Cơn đau đầu do tai biến não có thể xảy ra đột ngột ngày hay đêm, vì xơ vữa mạch máu  từ  lâu. Cần phân biệt đau đầu do tai biến não khác đau đầu bình thường. Nếu đau đầu dữ dội kèm theo chân tay mềm nhũn, không nhấc được chân tay, hoặc méo miệng, cứng lưỡi, là tai biến não. Để nằm yên tại chỗ, cấm cạo gió.  Lập tức lấy kim, sát trùng qua bật lửa, rồi châm kim 10 đầu ngón tay chân, mỗi chỗ nặn ra 1 giọt máu. Nếu méo mồm, nắm 2 dái tai kéo cho đỏ, châm kim nặn 1 giọt máu. Sau đó đưa đi cấp cứu ngay, sẽ không có di chứng tai biến.    

           2. Xơ vữa động mạch nguy cơ  nhồi máu cơ tim

     Khi có các triệu chứng  bệnh đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, béo phì, căng thẳng, tăng huyết áp, đau thắt ngực cần thường xuyên theo dõi nhồi máu cơ tim như: xét nghiệm máu, siêu âm tim, chụp động mạch vành.

         Triệu chứng đặc thù về tim mạch: Đau thắt ngực  khi gắng sức. Cơn đau có thể lan lên cổ, ra hai hàm răng, cánh tay trái, có thể xuống đến hai cổ tay. Ngoài ra, cơn đau có thể xuất hiện ở những vị trí khác, gây hiểu nhầm, như đau ngang với vị trí bao tử, ngang các xương sườn phía trái. Ở lưng, giữa hai xương bả vai. Có khi cảm giác như nóng bỏng trong ngực.

       Đau thắt ngực nặng hơn, xuất hiện chỉ hơi gắng sức hoặc ngay cả trong lúc nghỉ ngơi, trong giấc ngủ làm bệnh nhân tỉnh giấc, mỗi cơn kéo dài 10-30 phút, rất hay xảy ra ở giai đoạn nửa sau của đêm.

      Cơn đau tim xảy ra đột ngột, đau thắt vùng ngực, lan lên cổ, vai hướng ra sau lưng, lan ra cánh tay trái, bàn tay tê đau mỏi, kèm theo khó thở, buồn nôn, vã mồ hôi, mệt lả. Kèm theo cảm giác lo sợ, tưởng như sắp chết đến nơi, mồ hôi vã ra như tắm, mặt nhợt nhạt, muốn ngất xỉu.  Nhưng cũng có trường hợp người bệnh không có triệu chứng nào. Nó có thể xảy ra khi đang nghỉ ngơi, ăn uống hoặc đang ngủ.  Hoặc hoạt động thể lực,  trời lạnh. Căng thẳng tâm lý, hoặc bệnh nặng.   Cơn đau có thể kéo dài vài giờ đến vài ngày, hoặc 15-60 phút.

       Khoảng 25% số người bị nhồi máu cơ tim chết đột ngột tại chỗ sau vài phút khởi phát. 20% số bệnh nhân sẽ chết trước khi kịp tới bệnh viện.

        Giáo sư Phạm Gia Khải - Nguyên Viện trưởng Viện Tim mạch Quốc gia cho biết bệnh nhồi máu cơ tim là căn bệnh cực kỳ nguy hiểm nó có thể khiến người ta chết chỉ sau 1 phút.   Nhồi máu cơ tim là bệnh đột tử không lời trăn trối bởi bệnh nhân không hề biết rằng mình sẽ rời xa cõi đời

          Thế giới mỗi năm có 7,3 triệu người chết do bệnh nhồi máu cơ tim, riêng ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân nhồi máu cơ tim hàng năm tăng từ 15-20%.  Đây là những con số gióng lên hồi chuông báo động vì với lối sống hiện đại và dinh dưỡng không hợp lý, dễ dẫn đến rối loạn mỡ máu, tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim

           Anh Trần Duy N (41 tuổi, Nam Định) tử vong vì cơn đau tim cấp, không kịp đưa vào viện. Theo vợ anh N, ban ngày anh vẫn đi làm bình thường về, tối tắm rửa xong cả nhà vẫn ăn cơm đều đến 12h khuya vợ và con anh đã đi ngủ.  Chị thấy chồng vẫn đang ngồi xem điện thoại nhưng chỉ vài phút say thấy anh ngất lịm và sùi bọt mép. Vợ đưa anh đến bệnh viện thì anh đã tắt thở do cơn đau tim cấp.

      Bệnh tim mạch có thể chấp nhận những phương pháp luyện tập thật nhẹ nhàng. Luyện tập giải ô trược độc tố và ăn bột địa long thường xuyên, có tác dụng chống lão hóa tế bào, chữa các bệnh rối loạn chuyển hóa, giảm xơ vữa động mạch, làm tan cục máu đông, phòng chống nguy cơ nhồi máu cơ tim. Chế độ ăn uống, kiêng rượu bia, đồ xào, rán, dầu, mỡ. Chỉ dùng dầu vừng, dầu ô liu, dầu cá, và thực phẩm chức năng hạ mỡ máu, tăng chức năng gan. Không cần dùng thuốc tây.  

       Người bệnh lâu năm có biểu hiện đau thắt ngực trái, phải đi kiểm tra đặt Steen để được an toàn tính mạng.  

                                     

Vị trí khởi đầu sáu kinh mạch dưới móng chân

1. Kinh Tỳ: Chủ về chuyển hóa thức ăn, tạo khí huyết. Các bệnh về tụy, dạ dày, đường ruột. Liên hệ Kinh Vị, Tâm.

        2. Kinh Can: Chủ về tiêu hóa, bài tiết độc tố, cung cấp máu huyết, thúc đẩy hoạt động khí. Bệnh về gan, máu huyết, mật, sinh dục, ung thư, viêm sưng, táo bón, da, mắt. Thông Kinh Đởm, Vị.    

    3. Kinh Vị: Chủ về tiêu hóa. Bệnh về dạ dày, tiêu hóa. Thông với kinh Tiểu trường, Đại trường, Tỳ.

      4. Kinh Đởm: Tạo tinh chất mật, dũng khí, bản lĩnh con người. Bệnh về mật, tiêu hóa. Nối thông kinh Can.

       5. Kinh Thận: Chủ về bài tiết, sinh dục, cốt tủy, sinh tạo tủy não, xương, trí thông minh. Bệnh ở Thận, sinh dục, huyết áp cao, mắt, não, tủy, xương khớp, răng lợi. Nối Kinh Phế, Can, Bàng quang, Tâm

       6. Kinh Bàng quang: Chủ về bài tiết nước tiểu. Bệnh ở bàng quang, u tuyến tiền liệt, tiểu tiện. Nối thông thận, não




Vị trí khởi đầu sáu kinh mạch dưới móng tay

        1. Kinh Phế: Chủ hô hấp và khí, da. Bệnh ở phổi, ngực, họng, khí quản, thanh quản, da.  Thông Đại trường, Vị, Can

         2. Kinh Đại trường: Chủ về bài tiết cặn bã, hấp thụ dinh  dưỡng. Bệnh ở ruột già, trĩ, táo bón, bài tiết. Nối  Kinh  Phế.

            3. Kinh Tâm bào: Bao bọc bảo vệ kinh Tâm. Bệnh ở Tim ngực, thần kinh thực vật, dạ dày. Bệnh âm. Nối  Kinh Tam tiêu   

         4. Kinh Tam tiêu: Phủ bảo vệ phía ngoài các tạng phủ. Gồm các vùng Thượng tiêu, Trung tiêu, Hạ tiêu. Bệnh ở tim, ngực, bụng, tai. Nối thông Tâm bào.    

           5. Kinh Tâm: Đứng đầu các tạng phủ, chủ về tinh thần, chủ huyết mạch. Bệnh ở Tim, ngực, thần kinh, huyết áp. Nối thông Tiểu trường.

   6. Kinh Tiểu trường: Chủ về tiêu hóa, hấp thụ tinh chất thức ăn. Bệnh ở ruột non, tiêu hóa. Nối thông Kinh Tâm

 



ĐOÀN THANH HƯƠNG
11/9/2018 4:53:48 PM
Các tin liên quan
LUYỆN TÂM CHÍNH NIỆM  (4507)
CẤP MỘT: BÀI THỂ DỤC VÔ THỨC  (19642)
THỨC ĂN THẦN DƯỢC  (10895)
CẤP HAI : KHAI MỞ HÀ ĐÀO THÀNH.  (25704)
Lịch
Thông báo
THỐNG KÊ
Hôm Nay:   44
Hôm qua:   15
Tuần này:   128
Tuần trước:   215
Tháng này:   343
Tháng trước:   1227
Tổng cộng:   537366
Bản quyền tác giả Đoàn Thanh Hương
Đăng ký bản quyền tác giả số:4399/2008/QT
Giấy phép xuất bản số: 816-2013/CXB/09-31/HĐ