Cẩm nang luyện tập phòng chống ô nhiễm môi trường. " Nếu chúng ta làm sạch cơ thể hàng ngày, các tế bào có thể duy trì lâu hơn" - Dr.Alexis Carrel - Giải thưởng Nobel 1912
ẢNH ĐẸP
Bà Nguyễn Thị Ninh báo cáo vượt qua bệnh kiệt sức
Ông Nguyễn Thúc Tề, báo cáo nhận thức về Sức mạnh vô thức
Năng lượng phủ kín hội trường, các hình ảnh không rõ nét, ai cũng được nhận năng lượng vi tế
Ánh sáng vi tế 1
CON ĐƯỜNG LÀM CHỦ SỐ PHẬN

                                 CON ĐƯỜNG LÀM CHỦ SỐ PHẬN

Con người chịu đựng nhiều nỗi tai ương và bệnh hoạn, coi những việc bất đắc ý là số phận của mình. Trong lịch sử ý thức hệ nhân loại, nhiều bậc vĩ nhân đã mở đường cứu giải số phận con người, bằng nhiều cách khác nhau.

Con đường Minh triết lâu đời nhất là  phát triển Tâm thức tìm hiểu quy luật tự nhiên để sống thuận tự nhiên. Minh triết là sự sáng suốt hiểu biết đến cái lẽ tận cùng của sự việc, biết nguồn gốc của mọi hiện tượng xảy ra. Minh triết  có từ buổi bình minh của loài người.  Tổ tiên chúng ta đã trải qua hàng triệu năm quan sát khám phá các quy luật tự nhiên, xây dựng nền minh triết về sự sống, phát minh chữ viết để truyền lại minh triết cho con cháu biết. Nhận thức đầu tiên được ghi chép trong bộ cổ kinh xa xưa nhất là Rig Veda, 5000 năm trước. Minh triết cổ Phương Đông đã phản ánh Cội nguồn sự sống, cái nền tảng tạo ra vận mệnh sự sống của chúng ta là năng lượng gốc Prana, hay Điển thanh vũ trụ,  là cái đã tạo dựng vũ trụ, chuyển hoán mọi vật theo quy luật tự nhiên, trong đó có loài người.  Cho đến nay vẫn là nhận thức suất sắc nhất, là kim chỉ nam của mọi thời đại. Muốn làm chủ số phận phải biết cách làm chủ năng lượng Prana.

Prana là danh từ Phạn ngữ, có nghĩa là Sinh lực hay Sức sống. Pra có nghĩa là “Đứng đầu, đầu tiên”. Na nghĩa là “nhỏ nhất”. Đầu tiên của vũ trụ chỉ có các hạt ánh sáng Prana là năng lượng thanh tịnh, tạo ra Tinh thần và sự Vận động trong vũ trụ. “Ai làm chủ Prana sẽ làm chủ số phận mình”. (Prana kỳ diệu với Yoga: Sự thăng hoa và Siêu phàm của nhân loại-Almanach Những nền văn minh thế giới–NXB VHTT 1998).

Trên con đường cứu khổ phần lớn các mối đạo đều khẳng định cứu cánh nhân loại là ánh sáng thanh tịnh bao trùm khắp vũ trụ. Khái niệm này cùng bản chất Prana, chỉ khác nhau tên gọi và phương pháp tu luyện.

Gần 3000 năm sau xuất hiện Đạo Phật. Đức Phật Thích Ca nói về Phật A Di Đà là Ánh sáng vô lượng quang Vô lượng thọ, tỏa chiếu khắp mọi phương mà không bị ngăn cách. Đây là Năng lượng thanh tịnh Prana. Có phép tu cho các Phật tử hướng về sự thanh tịnh, bằng phương pháp giáo dục Từ Bi Hỷ Xả...  và niệm Phật A Di Đà cứu khổ và giúp siêu thoát về Niết bàn.

Sau hơn 500 năm nữa ra đời Đạo Thiên Chúa. Đức Chúa Giêsu nói về Thượng Đế, Tạo hóa, Đức Chúa Trời, là ánh sáng bàng bạc khắp mọi nơi, ban rải tình thương vô hạn cứu khổ nhân loại. Đây là Năng lượng thanh tịnh Prana. Các con chiên cầu khấn Đức Chúa cứu khổ, và đón về Thiên đường. Nhiều dòng tu phát triển tình thương vô giới hạn noi theo dòng năng lượng tình thương của Chúa ban rải khắp nơi. Tạo nên văn hóa Phương Tây.

Sau cùng xuất hiện nền Khoa học hiện đại, không dùng minh triết Phương Đông, Phương Tây, mà nhận thức thế giới bằng máy móc, kính thiên văn nhân tạo để tìm kiếm Năng lượng gốc, cho đến nay không thể tìm ra.

 Cái đích cuối cùng của Khoa học hay Tôn giáo đều giống nhau, đi tìm kiếm Năng lượng gốc. Chỉ khác nhau về tên gọi, phương pháp tìm kiếm. Tùy căn cơ ai có duyên phù hợp nơi nào thì áp dụng. Ai tìm được trước thì hưởng cứu cánh trước. Đã sinh sống trong vũ trụ này không có ai đứng ngoài Cội nguồn Prana. 

 Tính khách quan của minh triết Phương Đông là nhận thức thế giới tự nhiên, không phục vụ riêng cho giai cấp nào hay một thánh nhân nào. Đã nêu rõ bản chất tận cùng của mọi sự vật hiện tượng đều xuất phát từ Năng lượng. Năng lượng là căn nguyên cốt lõi phát sinh mọi vấn đề. Năng lượng xấu gọi ô trược sẽ tạo ra sự việc xấu. Năng lượng tốt tạo ra sự việc tốt. Đỉnh cao là năng lượng gốc, tạo nên sự tiến hóa thúc đẩy mọi sự phát triển tốt đẹp đúng quy luật Tự nhiên. Năng lượng gốc là phép màu của thế giới tự nhiên, tạo ra sự thăng hoa và siêu phàm của nhân loại, nhờ tu luyện năng lượng Prana, chứ không ngồi chờ cầu xin phép màu độ trì như nhiều tôn giáo. Người Minh triết tu luyện bằng cách rèn luyện các giải pháp đạt được “khử trược lưu thanh”, đây là mục đích tối cao của người tu từ xưa đến nay.

  Các nhà hiền triết Phương Đông đã cống hiến cho Nhân loại nhận thức siêu việt về Năng lượng gốc, xứng đáng là đỉnh cao của Khoa học Tâm linh., cái mà khoa học hiện đại không làm được.

Các thành tựu khoa học vật lý chỉ giới hạn ở năng lượng thô  phát ra từ vật chất, hầu hết tạo ra hậu quả ô nhiễm môi trường. Khoa học không sử dụng được năng lượng vi tế của thiên nhiên. Khoa học đã nhiều nỗ lực nghiên cứu chi tiêu tốn kém không thể tìm ra năng lượng gốc. Năng lượng nguyên tử, quang tử là hiện thân sức mạnh của Khoa học, vẫn là năng lượng thô, không giải quyết được bế tắc của nhân loại.

 Prana là sức mạnh bí ẩn Càn Khôn vũ trụ không dễ đạt được. Phải có công phu thiền định cao như các bậc đạo sĩ Yoga trên đỉnh núi, nhiều kiếp thiền mới đạt được. Vì khó nên ít người thành công, rồi thất truyền. Sau đó người Phương Đông đã phát triển theo chiều hướng thần quyền.  Dùng pháp thuật thần thông để nắm giữ quyền thống trị, để hưởng lợi và trấn áp người khác. Viên ngọc báu Prana bị chìm vào huyền bí Phương Đông.

Đức Phật Thích Ca Nâu Ni ra đời ở Phương Đông, nhưng không theo trào lưu thần quyền, mà chỉ ra nguyên nhân đau khổ do 5 loại ô trược (ngũ trược), và tuyên thuyết với ô trược, bằng phương pháp tu tâm từ bỏ ô trược Tham, sân, si, mạn, nghi, ngã chấp, cùng với ăn chay, thiền định, tu giữ giới vài trăm giới luật. Sự chuyển hóa của Tâm kéo dài nhiều kiếp. Chủ thuyết An lạc của Đạo Phật giúp con người dịu bớt sự hung dữ, bớt thù hận, là đóng góp lớn lao của Đạo Phật cho nền Hòa Bình thế giới. Nếu không có ngọn cờ “TỪ, BI, HỶ, XẢ” của Đạo Phật, con người có thể giận dữ đánh nhau đến người cuối cùng, vì cái dục vọng tham tàn rất lớn.

Nhưng ô trược là vấn đề bí hiểm không diễn tả hết bằng từ ngữ, nên Đức Phật truyền đạt bằng con đường Tâm truyền: “Những điều ta đã nói như nắm lá trong bàn tay, điều ta chưa nói nhiều như lá trên rừng cây”. Và đưa ra một bông hoa sen, im lặng trao cho Ma Ha Ca Diếp. Tức là Đức Phật đã ngụ ý truyền trao một bản kinh Vô ngôn, truyền đi mãi mãi từng giây phút, ai hiểu sẽ nhận ra, nhưng không bao giờ có với người không ngộ ra. Vì kinh sách Phật được ghi chép sau 218 năm Phật nhập diệt, không tránh khỏi tam sao thất bản (kinh Tăng chi bộ, trang 95), nên nhiều Phật tử không hiểu rằng cuộc đấu tranh với ô trược là mục tiêu giải khổ của Đạo Phật.

Trong Kinh Thánh, sứ đồ Phao Lô có đề cập rất chính xác sự chi phối ô trược nghiệp lực: "Tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗitức là luật trong chi thể tôi vậy. Khốn nạn cho tôi. Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết này ? Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Giêsu là Chúa chúng ta"... 

Ngày phán sử cuối cùng là có thật, là ngày ô trược phán sử người nào nuôi nó thì phải trả giá bằng nỗi đau đớn bệnh tật, có thể mê man bất tỉnh trước khi rời bỏ cõi đời.

Tính người cao ngạo, tham lam, nói dối, tức giận, độc ác, ganh tỵ, mưu mô…đã sinh ra thế giới ô trược.

Tính Chúa Phật là thanh tịnh, yêu thương vô bờ bến. Chúa và Phật là các bậc Vĩ nhân có trí tuệ cao siêu, đến với thế gian này chịu đựng nhiều gian khổ hy sinh để giúp đỡ nhân loại cách tu sửa giải nghiệp ác.

Nhưng lòng tham con người quá mạnh, chỉ muốn Chúa Phật phù hộ phép nhiệm màu cho nhiều tiền bạc, ngôi vị cao, mà không chịu từ bỏ ô trược. Không chặn đứng được ô trược, thì sự cứu giải còn xa vời vợi.

Vũ trụ còn muôn vàn bí mật chỉ có Tạo hóa sinh ra mới biết. Các bậc Vĩ nhân chỉ giác ngộ được một phần Chân lý, không ai biết được tất cả như Tạo hóa. Chúa Giê su biết một phần Chân lý mà Chúa đã nhận được. Phật Thích Ca biết một phần Chân lý mà Phật nhận được. Ai cũng đúng, và có thể bổ xung lẫn nhau.

Song tình trạng cuồng tín một người đã chia rẽ thế giới thành nhiều nhóm tranh chấp đúng sai, sinh ra đố kị, thù hằn nhau. Nặng hơn thì Chiến tranh, khủng bố, đổ máu. Điều đó trái với tôn chỉ yêu thương mọi người mà Chúa Phật đã nêu ra. Cần phải có trí tuệ nhìn thấy sự thật, bớt cuồng tín, thì có bình yên.

Người minh triết biết lắng nghe tất cả các bậc vĩ nhân, biết kính trọng Tạo hóa vĩ đại, học hỏi các nhà hiền triết, và tổ tiên của mình. Vì thế người minh triết biết sửa lỗi rất nhanh, họ không cuồng tín, không tranh chấp giai cấp hay tôn giáo. Họ đấu tranh với chính bản thân để khử trược lưu thanh. Cơ thể là bộ máy siêu việt của Tạo hóa, cần được quét dọn sạch sẽ để trở thành đền đài thiêng liêng của bạn. Chiến thắng bản thân là chiến thắng Vinh quang nhất.   

                                                                         Đoàn Thanh Hương 

   

3/14/2020 6:18:49 AM
Các tin liên quan
TĂNG SỨC ĐỀ KHÁNG.  (779)
CẤP MỘT: BÀI THỂ DỤC VÔ THỨC  (22345)
CẤP HAI : KHAI MỞ HÀ ĐÀO THÀNH.  (28572)
LUYỆN TÂM CHÍNH NIỆM  (6137)
THỨC ĂN THẦN DƯỢC  (13034)
Lịch
THỐNG KÊ
Hôm Nay:   75
Hôm qua:   19
Tuần này:   598
Tuần trước:   661
Tháng này:   1642
Tháng trước:   28120
Tổng cộng:   578693
Bản quyền tác giả Đoàn Thanh Hương
Đăng ký bản quyền tác giả số:4399/2008/QT
Giấy phép xuất bản số: 816-2013/CXB/09-31/HĐ